Xây Nhà Trên Đất Nông Nghiệp Bị Truy Thu Số Lợi Bất Hợp Pháp: Cách Tính Truy Thu Thế Nào?
Bài viết cập nhật theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP, Nghị định 281/2026/NĐ-CP | Công văn số 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ ngày 06/7/2026 của Cục Quản lý đất đai
Nhà xây trên đất nông nghiệp từ hơn chục năm trước, đến nay thực hiện thủ tục hành chính thì bị vướng. Ngoài nguy cơ bị phạt tiền, người vi phạm còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp (khoản tiền thường lớn hơn nhiều lần mức phạt). Khoản lợi bất hợp pháp này được tính từ năm xây dựng nhà hay chỉ từ khi pháp luật bắt đầu quy định về việc truy thu? Xác định sai thời điểm, sai giá đất hoặc sai thời hiệu áp dụng, số tiền phải nộp có thể chênh lệch hàng trăm triệu, thậm chí nhiều tỷ đồng.
Không ít địa phương từng áp dụng không thống nhất vấn đề này. Ngày 06/7/2026, Cục Quản lý đất đai – Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Công văn số 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ trả lời chính thức một trường hợp cụ thể, làm rõ cách áp dụng quy định chuyển tiếp tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
Đáng chú ý, ngày 13/7/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 281/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2024/NĐ-CP, trong đó bổ sung quy định khấu trừ số tiền người vi phạm đã nộp vào ngân sách Nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm vào số lợi bất hợp pháp phải nộp, đồng thời có quy định chuyển tiếp riêng cho các vụ việc đang xử lý. Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 31/8/2026.
Bài viết dưới đây của Luật Minh Tú phân tích toàn bộ căn cứ pháp lý về khái niệm, phạm vi áp dụng, thời điểm tính, giá đất tính, thời hiệu áp dụng, điều khoản chuyển tiếp khi Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực và hướng dẫn xử lý khi bị tính sai khoản truy thu số lợi bất hợp pháp do xây nhà trên đất nông nghiệp.
| TÓM TẮT NHANH |
| • Số lợi bất hợp pháp là khoản tiền tương ứng với lợi ích thu được từ việc sử dụng đất sai mục đích, phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Đây là biện pháp khắc phục hậu quả, áp dụng độc lập với tiền phạt và có thể áp dụng ngay cả khi không ra quyết định xử phạt. |
| • Từ ngày 31/8/2026 (theo Nghị định 281/2026/NĐ-CP), nếu người vi phạm đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm (như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất), số tiền đã nộp được khấu trừ vào số lợi bất hợp pháp phải nộp. |
| • Đối tượng thường gặp: hộ gia đình, cá nhân xây nhà ở, công trình trên đất nông nghiệp mà không làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất. |
| • Thời điểm tính: vi phạm trước ngày 25/12/2014 → tính từ ngày 25/12/2014; vi phạm từ ngày 25/12/2014 đến trước ngày 04/10/2024 → tính từ chính ngày vi phạm; vi phạm từ ngày 04/10/2024 trở đi → áp dụng trực tiếp Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Nghị định 281/2026/NĐ-CP không thay đổi các mốc tính này. |
| • Giá đất tính theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, không phải giá thị trường. |
| • Thời hiệu: biện pháp này không bị giới hạn bởi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (2 năm), do đó vẫn có thể áp dụng dù đã hết thời hiệu phạt tiền. |
| • Nếu bị tính sai: có quyền khiếu nại trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận quyết định xử phạt, không mất phí. |
| VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ÁP DỤNG |
| • Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (đã được sửa đổi, bổ sung); |
| • Nghị định 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ; |
| • Nghị định 281/2026/NĐ-CP ngày 13/7/2026 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 31/8/2026); |
| • Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ (đã hết hiệu lực, có ý nghĩa xác định mốc chuyển tiếp); |
| • Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ (đã hết hiệu lực, có ý nghĩa xác định mốc chuyển tiếp); |
| • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 (Luật số 64/2025/QH15); |
| • Luật Khiếu nại 2011 (đã được sửa đổi, bổ sung); |
| • Công văn số 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ ngày 06/7/2026 của Cục Quản lý đất đai – Bộ Tài nguyên và Môi trường. |
- Số lợi bất hợp pháp là gì và tính độc lập khi áp dụng với các biện pháp xử lý hành chính khác
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, số lợi bất hợp pháp là số lợi tính thành tiền do tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có được từ việc sử dụng đất sau vi phạm và phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Đây là một trong các biện pháp khắc phục hậu quả theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (đã được sửa đổi, bổ sung), áp dụng song song với hình thức phạt tiền, trên thực tế thường là khoản có giá trị lớn hơn nhiều lần mức phạt.
Đáng lưu ý, khoản 1 Điều 6 nêu trên vừa được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 3 Nghị định 281/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 31/8/2026): nếu người vi phạm đã nộp các khoản tiền vào ngân sách Nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm (ví dụ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp trước đó), số lợi bất hợp pháp phải nộp được khấu trừ số tiền đã nộp. Đây là quy định mới, giúp tránh việc người vi phạm bị tính trùng nghĩa vụ tài chính đối với cùng một khoảng thời gian sử dụng đất.
Tính độc lập của biện pháp này như thế nào? Theo khoản 2 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung), biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này, bao gồm: hết thời hiệu xử phạt, hết thời hạn ra quyết định xử phạt, không xác định được đối tượng vi phạm hoặc cá nhân vi phạm đã chết, mất tích. Nói cách khác, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền không ban hành quyết định xử phạt tiền (ví dụ vì đã hết thời hiệu xử phạt), người vi phạm vẫn có thể bị ra quyết định riêng buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
- Những trường hợp có thể bị áp dụng biện pháp truy thu số lợi bất hợp pháp
Theo các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 17 và 18 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, biện pháp này áp dụng với nhiều nhóm hành vi. Phổ biến nhất với hộ gia đình, cá nhân là: sử dụng đất trồng lúa, đất rừng, đất nông nghiệp khác sang mục đích khác (điển hình là xây nhà ở) mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích; lấn đất hoặc chiếm đất; chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất không đủ điều kiện.
Ví dụ điển hình: hộ gia đình xây nhà ở trên đất trồng cây hằng năm từ khoảng năm 2011, diện tích khoảng 100m², không làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất. Đến năm 2026, chính quyền mới kiểm tra, phát hiện, lập biên bản vi phạm. Đây chính là tình huống thuộc diện bị truy thu số lợi bất hợp pháp.
- Thời điểm tính số lợi bất hợp pháp
Trên thực tế tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau xuất phát từ việc đọc riêng lẻ hai điều khoản trong cùng Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Điểm a khoản 2 Điều 6 quy định: “Số năm vi phạm được xác định từ thời điểm sử dụng đất sang mục đích khác đến thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính.” Đọc độc lập, nhiều người hiểu vi phạm bắt đầu từ năm nào thì số lợi bất hợp pháp tính từ năm đó. Trong khi đó, khoản 2 Điều 35 về quy định chuyển tiếp cho hành vi xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực (tức ngày 04/10/2024) thì thời gian được tính từ khi Nghị định có quy định về nghĩa vụ này có hiệu lực, hoặc từ ngày xảy ra vi phạm nếu vi phạm xảy ra sau ngày Nghị định xử phạt vi phạm hành chính đất đai đầu tiên quy định về nghĩa vụ này đã có hiệu lực. Nghị định 281/2026/NĐ-CP không sửa đổi khoản 2 Điều 6 và Điều 35 nêu trên, nên cách xác định thời điểm tính dưới đây vẫn giữ nguyên giá trị áp dụng.
Từ đó, có thể phân thành ba trường hợp:
Trường hợp 1 – Vi phạm xảy ra trước ngày 25/12/2014: đây chính là tình huống được Cục Quản lý đất đai giải đáp tại Công văn 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ về việc một công dân phản ánh việc xây nhà ở 100m² trên đất trồng cây hằng năm từ năm 2011, bị xử phạt năm 2026. Cục khẳng định: “Trường hợp nội dung Bà phản ánh là đúng, sử dụng đất sai mục đích vào thời điểm năm 2011 thì thời điểm tính số lợi bất hợp pháp được tính từ ngày 25/12/2014 (ngày có hiệu lực của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP) đến ngày lập biên bản vi phạm hành chính.” Không thể lấy toàn bộ thời gian vi phạm từ năm 2011, vì trước ngày 25/12/2014 pháp luật chưa từng đặt ra nghĩa vụ này.
Trường hợp 2 – Vi phạm xảy ra từ ngày 25/12/2014 đến trước ngày 04/10/2024: pháp luật đã có quy định về nghĩa vụ này (thông qua Nghị định 102/2014/NĐ-CP, sau đó là Nghị định 91/2019/NĐ-CP). Số lợi bất hợp pháp được tính trực tiếp từ chính ngày xảy ra vi phạm đến ngày lập biên bản.
Trường hợp 3 – Vi phạm xảy ra từ ngày 04/10/2024 trở đi: áp dụng trực tiếp công thức tại Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, không cần viện dẫn điều khoản chuyển tiếp.
Công văn 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ không phải văn bản quy phạm pháp luật nên không bắt buộc áp dụng chung, tuy nhiên đây là quan điểm chính thức của cơ quan quản lý chuyên ngành cấp Cục, có giá trị tham khảo quan trọng, phù hợp với nguyên tắc không hồi tố tại Điều 55 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 (Luật số 64/2025/QH15): không được quy định hiệu lực trở về trước đối với trách nhiệm pháp lý mới cho hành vi mà tại thời điểm thực hiện, pháp luật chưa quy định trách nhiệm đó.
| VÍ DỤ MINH HỌA CÁCH TÍNH |
| • Năm 2026, gia đình ông N. bị lập biên bản vi phạm do xây nhà ở 300m² trên đất trồng cây lâu năm từ năm 2011, không được phép chuyển mục đích. Với giá đất ở tại thời điểm lập biên bản 25 triệu đồng/m² (7,5 tỷ đồng) và giá đất trồng cây lâu năm cùng thời điểm 500.000 đồng/m² (150 triệu đồng), chênh lệch giá trị là 7,35 tỷ đồng. |
| • Áp dụng công thức tại Điều 6 (chênh lệch giá trị x số năm vi phạm / 70 năm): nếu tính từ năm 2011 (khoảng 15 năm), số lợi bất hợp pháp khoảng 1,575 tỷ đồng; nếu tính đúng quy định chuyển tiếp, từ ngày 25/12/2014 (khoảng 11,5 năm), số lợi bất hợp pháp còn khoảng 1,2075 tỷ đồng, chênh lệch hơn 367 triệu đồng. Nếu trước đó ông N. đã nộp một khoản tiền sử dụng đất liên quan đến diện tích này, số tiền đó còn được khấu trừ tiếp theo quy định mới tại Nghị định 281/2026/NĐ-CP. |
- Giá đất để tính số lợi bất hợp pháp
Theo Điều 6 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, giá đất dùng để tính số lợi bất hợp pháp là giá đất theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, được xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, không phải giá đất cụ thể, không phải giá thị trường, và không phải giá tại thời điểm bắt đầu vi phạm. Loại đất trước khi vi phạm được xác định theo quy định tại Điều 10 Luật Đất đai 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung); loại đất sau khi vi phạm được xác định theo hiện trạng sử dụng tại thời điểm lập biên bản. Đây là điểm nhiều người nhầm lẫn khi tự ước tính khoản truy thu, dẫn đến chênh lệch lớn so với số tiền cơ quan chức năng thực tế ấn định.
- Thời hiệu áp dụng truy thu số lợi bất hợp pháp
Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn nhất. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 02 (hai) năm; đối với hành vi vi phạm đang thực hiện (như xây nhà và tiếp tục sử dụng trên đất sai mục đích), thời hiệu này được tính từ thời điểm phát hiện hành vi, không phải từ thời điểm bắt đầu vi phạm.
Tuy nhiên, biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp là biện pháp khắc phục hậu quả, không phải hình thức xử phạt, do đó không bị giới hạn bởi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Theo khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (đã được sửa đổi, bổ sung), khi hết thời hiệu xử phạt hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt, cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp. Điều này lý giải vì sao hành vi xây nhà từ năm 2011 vẫn có thể bị truy thu số lợi bất hợp pháp vào năm 2026, dù đã vượt xa thời hiệu xử phạt 2 năm. Tuy nhiên, khoản truy thu vẫn phải xác định đúng thời điểm bắt đầu tính theo quy định chuyển tiếp tại mục 3 nêu trên.
Nguyên tắc này vừa được khẳng định cụ thể cho lĩnh vực đất đai tại điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định 281/2026/NĐ-CP: đối với hành vi vi phạm đã lập biên bản nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt, nếu đã hết thời hiệu xử phạt hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt theo điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn phải ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có).
- Điều khoản chuyển tiếp khi Nghị định 281/2026/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 31/8/2026)
Nghị định 281/2026/NĐ-CP không thay đổi công thức tính và quy định chuyển tiếp về thời điểm tính số lợi bất hợp pháp tại Điều 6, Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, nhưng bổ sung quy định khấu trừ nêu tại mục 1 và có quy định chuyển tiếp riêng tại Điều 11, áp dụng cho hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực:
Trường hợp A – Đã có quyết định xử phạt và đang thi hành: tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành, không áp dụng lại theo Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
Trường hợp B – Đã lập biên bản vi phạm nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt: nếu đã hết thời hiệu hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt, cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt nhưng vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo Nghị định có hiệu lực tại thời điểm lập biên bản; nếu còn thời hạn ra quyết định xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả cũng áp dụng theo Nghị định tại thời điểm lập biên bản. Trong cả hai trường hợp, nếu Nghị định 281/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn (ví dụ được khấu trừ tiền đã nộp ngân sách) thì áp dụng theo Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
Trường hợp C – Quyết định xử phạt đã ban hành hoặc đã thi hành xong trước ngày 31/8/2026 mà còn khiếu nại: áp dụng quy định có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định xử phạt để giải quyết khiếu nại, không áp dụng Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
- Hướng dẫn khi bị tính số lợi bất hợp pháp sai
Bước 1. Rà soát quyết định xử phạt và biên bản vi phạm hành chính: kiểm tra thời điểm bắt đầu vi phạm, thời điểm bắt đầu tính số lợi bất hợp pháp, diện tích và giá đất áp dụng có đúng Điều 6 và khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP hay không, có thuộc diện được khấu trừ số tiền đã nộp ngân sách (nếu có) theo Nghị định 281/2026/NĐ-CP hay không.
Bước 2. Nộp đơn khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan đã ban hành quyết định xử phạt: hồ sơ gồm Đơn khiếu nại nêu rõ căn cứ cho rằng quyết định xác định sai thời điểm, sai giá đất hoặc sai phương pháp tính, kèm tài liệu chứng minh (nếu có). Thời hạn khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định truy thu số lợi bất hợp pháp. Việc khiếu nại không mất phí, lệ phí cho Nhà nước theo luật định.
Bước 3. Cá nhân, cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết khiếu nại: nếu xác định quyết định xử phạt tính sai, cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ phần nội dung không đúng, điều chỉnh lại số lợi bất hợp pháp phải nộp. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu, người dân có quyền khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện hành chính tại Tòa án.
- Dịch vụ hỗ trợ rà soát truy thu số lợi bất hợp pháp chuyên nghiệp tại Luật Minh Tú
Luật Minh Tú đồng hành cùng khách hàng từ khi nhận quyết định xử phạt đến khi vụ việc được giải quyết, gồm:
- Rà soát hồ sơ, quyết định xử phạt, biên bản vi phạm để xác định thời điểm vi phạm và căn cứ pháp lý áp dụng, bao gồm cả quy định chuyển tiếp của Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
- Tính toán lại số lợi bất hợp pháp theo đúng quy định hiện hành, đối chiếu với số tiền đã ấn định.
- Soạn đơn khiếu nại, đại diện làm việc với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.
- Hỗ trợ khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện hành chính nếu quyền lợi khách hàng không được giải quyết thỏa đáng.
Tại sao chọn Luật Minh Tú?
- Chuyên sâu: đội ngũ Luật sư am hiểu pháp luật đất đai, chủ động cập nhật quy định mới nhất.
- Tiết kiệm: không phát sinh chi phí vô lý.
- Nhanh chóng: rút ngắn tối đa thời gian chờ đợi nhờ quy trình làm việc chuyên nghiệp.
Các câu hỏi thường gặp (FAQ)
Nhà tôi xây trên đất nông nghiệp từ trước năm 2014, có bị tính số lợi bất hợp pháp từ năm xây nhà không?
Không. Theo khoản 2 Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP và Công văn 3247/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ, số lợi bất hợp pháp chỉ được tính từ ngày 25/12/2014 (ngày Nghị định 102/2014/NĐ-CP có hiệu lực) đến ngày lập biên bản vi phạm.
Nghị định 281/2026/NĐ-CP thay đổi gì so với Nghị định 123/2024/NĐ-CP liên quan đến số lợi bất hợp pháp?
Nghị định 281/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 31/8/2026) bổ sung quy định khấu trừ số tiền đã nộp ngân sách Nhà nước từ việc sử dụng đất vi phạm vào số lợi bất hợp pháp phải nộp. Công thức tính và quy định chuyển tiếp về thời điểm tính tại Điều 6, Điều 35 Nghị định 123/2024/NĐ-CP không thay đổi.
Vụ việc đã lập biên bản trước ngày 31/8/2026 nhưng chưa có quyết định xử phạt, có được áp dụng quy định khấu trừ mới không?
Có, nếu quy định mới có lợi hơn cho người vi phạm, theo nguyên tắc chuyển tiếp tại điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
Đã hết thời hiệu xử phạt 2 năm thì có còn bị truy thu số lợi bất hợp pháp không?
Có. Thời hiệu xử phạt chỉ áp dụng cho việc phạt tiền. Biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp là biện pháp khắc phục hậu quả, không bị giới hạn bởi thời hiệu xử phạt theo khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính và điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định 281/2026/NĐ-CP.
Giá đất dùng để tính số lợi bất hợp pháp là giá nào?
Là giá đất theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, xác định tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, không phải giá thị trường.
Nếu đã nộp tiền theo cách tính từ năm bắt đầu vi phạm, có thể khiếu nại để tính lại không?
Có. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận quyết định xử phạt, người dân có quyền khiếu nại nếu cho rằng cơ quan xác định sai thời điểm, sai giá đất hoặc sai phương pháp tính. Nếu đã hết thời hạn khiếu nại, cần được Luật sư đánh giá cụ thể hồ sơ để xác định hướng xử lý phù hợp.
Nếu bạn hoặc người thân đang bị truy thu số lợi bất hợp pháp do xây nhà trên đất nông nghiệp, đừng chỉ nhìn vào số tiền phải nộp. Hãy kiểm tra xem cơ quan Nhà nước đã xác định đúng căn cứ pháp lý, đúng mốc thời gian, đúng giá đất và đã khấu trừ đầy đủ theo quy định mới hay chưa. Liên hệ ngay với Luật Minh Tú để được rà soát hồ sơ và tư vấn phương án bảo vệ quyền lợi!
| THÔNG TIN LIÊN HỆ |
| • Hotline: 1900 0031 |
| • Zalo tư vấn 24/7: https://zalo.me/congtyluatminhtu |
| • Zalo đặt lịch tư vấn cùng Thạc sĩ Luật Võ Hồng Tú: 090.737.4868 |
| • Fanpage: https://www.facebook.com/luatminhtu |
| • Email: info@luatminhtu.com |
| • Website: luatminhtu.vn |
| • Văn phòng tư vấn: Số 4/9 Đường số 3, Cư xá Đô Thành, Phường Bàn Cờ, TP. Hồ Chí Minh |
